Cảnh báo xu hướng bệnh ung thư trong tương lai

Bệnh ung thư được coi là một trong những chứng bệnh nan y nguy hiểm được phát hiện với số ca mắc bệnh ngày càng gia tăng trên thế giới. Không ít giả thuyết cho rằng: ung thư là căn bệnh phát sinh do lối sống, lối sinh hoạt thiếu khoa học của con người. Song phải chăng ung thư là căn bệnh của xã hội thời hiện đại?

Bệnh ung thư được coi là một trong những chứng bệnh nan y nguy hiểm được phát hiện với số ca mắc bệnh ngày càng gia tăng trên thế giới. Hãy cùng OSSC - ĐẠI DIỆN CÁC BỆNH VIỆN SINGAPORE tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này


Có phải là bệnh của xã hội hiện đại

Với số lượng bệnh nhân được phát hiện là mắc bệnh ung thư và số ca tử vong do ung thư tăng đột biến trong một vài năm trở lại đây, ung thư đã được xem là căn bệnh của xã hội thời hiện đại. TS. Rosalie David – trường đại học Manchester – Anh và TS. Michael Zimmermann – trường đại học Villanova trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: cuộc sống xã hội thời hiện đại đã góp phần đẩy mạnh sự hình thành của nhiều yếu tố gây bệnh ung thư. Các loại hoá chất độc hại từ các sản phẩm gia dụng, tia cực tím, khói bụi công nghiệp, môi trường sống bị ô nhiễm, thói quen sinh hoạt thiếu khoa học, bia rượu, thuốc lá… đã đẩy nhanh số ca mắc bệnh ung thư trên khắp thế giới. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây được tiến hành trên các xác ướp Ai Cập và các bộ xương hóa thạch của người Ai Cập cổ đã giúp khoa học làm rõ điều nghi vấn này. Kết quả kiểm tra đã cho thấy có nhiều dấu hiệu của việc những người này bị chết là do từng bị mắc bệnh ung thư. Có thể nói, ung thư đã tồn tại từ lâu trong lịch sử, mặc dù chỉ là một trong những căn bệnh gây tỉ lệ tử vong thấp trên thế giới.

Nghiên cứu trên hàng chục nghìn bộ xương cổ và hàng trăm xác ướp cổ, TS. David Zimmermann chỉ phát hiện thấy một số ít trong đó bị mắc ung thư. Tìm hiểu các triệu chứng bệnh được miêu tả trong các tài liệu được ghi lại, các nhà khoa học nhận thấy: dạng ung thư đã gây tử vong cho người Ai Cập và Hi Lạp cổ là ung thư đường ruột.



Nguyên nhân nào làm gia tăng ung thư

Trên thực tế, khi chưa có các yếu tố làm gia tăng nguy cơ ung thư như hiện nay, thì các phóng xạ tự do trong môi trường, tia cực tím từ nắng mặt trời và các virút gây viêm nhiễm dẫn tới ung thư như Papilloma virus, virút viêm gan…  cũng có thể gây ra ung thư cho con người.

Tuy nhiên, tình trạng bệnh ung thư gia tăng như hiện nay xuất phát từ lối sống thiếu khoa học và tác động từ môi trường sống, thực phẩm ăn uống đang tiềm ẩn nhiều yếu tố gây biến đổi tế bào trong cơ thể.

Thói quen nghiện thuốc lá là một trong những yếu tố làm gia tăng ung thư hàng đầu thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, 1/4  tổng số bệnh nhân mắc ung thư hiện nay trên toàn cầu là do ảnh hưởng của thuốc lá. Trong khói thuốc lá có chứa carcinogen là chất độc gây hủy hoại tế bào và kích thích tế bào biến đổi thành các tế bào lạ. Chất độc này dễ dàng được hấp thụ vào cơ thể con người qua đường hô hấp, qua da do tiếp xúc với khói thuốc… Song lại không thể thải ra ngoài cơ thể. Thay vào đó, chúng tích tụ dần trong cơ thể tại các vùng như gan, phổi và phá huỷ các tế bào hoặc làm biến đổi chúng thành các tế bào lạ.

Yếu tố làm gia tăng ung thư xếp thứ hai sau thuốc lá là rượu. Thói quen uống nhiều rượu khiến cho chức năng dạ dày, gan bị suy giảm và làm gia tăng nguy cơ ung thư. Ngoài ra tiếp xúc với tia tử ngoại trong nắng mặt trời, lối sống thụ động, sử dụng nhiều thực phẩm giàu chất béo, lười vận động cũng góp phần làm gia tăng tỉ lệ ung thư cho con người.

Kết quả xét nghiệm trên các xác ướp người Chile, người Italia từ thế kỷ 14 và các xác ướp Ai Cập cổ cho thấy phần lớn những người này chết trước tuổi 50. Song với những người mắc bệnh ung thư ngày nay không phân biệt lứa tuổi. Rõ ràng, ung thư là căn bệnh tồn tại từ lâu, song dưới tác động của yếu tố môi trường sống và thói quen sinh hoạt của con người, căn bệnh này ngày một gia tăng.

 Xu hướng phát triển của căn bệnh ung thư trong xã hội hiện đại
Theo dự báo của các nhà khoa học Anh, thế kỉ 21, ung thư tiếp tục là căn bệnh có tỉ lệ tử vong cao trên thế giới. Khoa học vẫn chưa thể tìm ra cách điều trị dứt điểm các trường hợp khối u ác tính, và ung thư vẫn được xem là căn bệnh nan y khó cứu chữa.

Lý giải cho việc số ca tử vong do ung thư sẽ tăng lên trong tương lai, các nhà khoa học cho rằng: do điều kiện sống thay đổi, thói quen sinh hoạt của con người có nhiều bất lợi cho sức khỏe, kèm theo đó là sự thay đổi khí hậu toàn cầu dẫn tới sự khắc nghiệt của thời tiết, môi trường bị ô nhiễm nặng nề...Những yếu tố này đã tác động đến con người làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh, mà trong đó có nguy cơ xuất hiện các tế bào bị biến đổi.


Nồng độ các phân tử phóng xạ tự do trong môi trường tăng cao khiến cho nguy cơ tiếp xúc với lượng phóng xạ gia tăng và là điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của bệnh ung thư. Các thói quen xấu đặc biệt góp phần không nhỏ vào việc gia tăng ung thư. Theo nghiên cứu tại Mỹ, béo phì do thói quen ăn uống thiếu khoa học, lười vận động cũng làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư. Ở phụ nữ, chỉ số cân nặng và mức độ béo phì càng cao, cơ thể càng sản sinh ra nhiều hoóc môn oestrogen và tỉ lệ mắc ung thư vú càng cao. Ngoài ra, thống kê cho thấy: số lượng người béo phì  mắc các vấn đề về sức khoẻ như ung thư đường ruột, các bệnh về gan, thận… có tỉ lệ cao hơn nhiều so với người bình thường.

Theo thống kê của Tổ chức ung thư Liên hợp quốc, tới năm 2030, số các trường hợp mắc ung thư trên thế giới sẽ tăng gấp nhiều lần con số hiện nay và số các trường hợp tử vong do ung thư sẽ nhiều gấp đôi con số đã được thống kê trên thế giới vào năm 2008. Theo ước tính này, số người bị tử vong do ung thư sẽ lên tới khoảng hơn 13,2 triệu người vào năm 2030.

Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế – IARC cũng cho biết khoảng 21,4 triệu trường hợp mắc mới ung thư sẽ được phát hiện vào năm 2030 và sẽ tập trung chủ yếu tại các nước nghèo – nơi có mức sống thấp và tỉ lệ mắc bệnh tật cao nhất thế giới.

Những con số dự báo trên đây của IARC không chỉ đưa ra những cảnh báo về nguy cơ ung thư đang bùng phát mà còn là lời cảnh báo đối với các tổ chức chăm sóc sức khỏe tại các quốc gia trên thế giới.

Phương pháp mới trong điều trị ung thư

Sự thay đổi không ngừng của khoa học đã đem đến cho nhân loại những thành tựu vượt bậc, giúp chất lượng cuộc sống được ngày một nâng cao. Trong lĩnh vực điều trị ung thư – căn bệnh vốn được coi là nan y – cũng đang có những bước đột phá mới nhằm đem lại cho những bệnh nhân những hy vọng mới.

Phương pháp truyền thống

Chúng ta đều biết, trong thế kỷ 20, điều trị ung thư bằng kỹ thuật hóa – xạ trị, phẫu thuật được áp dụng rộng rãi, và đến nay nó vẫn là biện pháp trị ung thư cơ bản nhất tại Việt Nam. Các kỹ thuật này cũng đã đóng một vai trò rất quan trọng, đó là giúp cho tỷ lệ thành công của các ca điều trị tăng lên, kéo dài sự sống cho bệnh nhân.


Sau một thời gian áp dụng, các phương pháp trị liệu truyền thống này đã bộc lộ những nhược điểm như: để lại tác dụng phụ cho bệnh nhân, đặc biệt những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không thich hợp làm phẫu thuật; có nhiều trường hợp khối u không thể tiến hành điều trị theo phương pháp này, thậm chí còn làm cho kích thước khối u phát triển to hơn.

Sau hóa trị, sức đề kháng của cơ thể càng giảm, làm tăng nguy cơ di căn. Một số trường hợp áp dụng biện pháp hóa trị làm tổn hại đến tim, gan. Có không ít trường hợp bệnh nhân đã chết vì không chịu đựng được đợt hóa trị. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị giảm sút rất nhiều. Đó là chưa kể, các biện pháp truyền thống trong điều trị ung thư rất tốn kém.

Song, đa số bệnh nhân vẫn nghĩ rằng hóa-xạ trị và phẫu thuật là biện pháp duy nhất để điều trị ung thư.

Bước đột phá mới về trị liệu ung thư

Với sự thay đổi lớn về môi trường sống cũng như thói quen sinh hoạt đã dẫn đến tình hình bệnh ung thư gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu. Vì thế, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các nhà khoa học là nghiên cứu, cải tiến các biện pháp chữa trị ung thư mới để nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Tại Bệnh viện Hiện Đại Quảng Châu (Trung Quốc), một trong những trung tâm nghiên cứu và điều trị ung thư hàng đầu Đông Nam Á hiện nay đã áp dụng những phương pháp trị liệu mới, được coi là bước đột phá trong điều trị ung thư. Với sự tham gia của đội ngũ hội chẩn trong từng ca điều trị, vận dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới, tạo ra hình thức điều trị mới: thâm nhập vết thương nhỏ, điều trị tổng hợp và kết hợp Đông tây y.

Cách điều trị mang tính tổng hợp này đã thoát khỏi phương pháp truyền thống. Bệnh viện áp dụng các máy móc tối tân nhất, thuốc đặc trị vết thương nhỏ cục bộ, định hướng đúng vị trí của vết thương, giết chết tế bào ung thư tại khu vực đó mà không ảnh hưởng tới các vùng xung quanh của cơ thể. Nhờ vậy đã hạn chế tối đa các tác hại gây ra cho sức khỏe và bảo vệ chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Ngoài ra, với biện pháp Đông tây y kết hợp đã lợi dụng được thế mạnh kháng ung thư của Đông y, dựa trên lý luận cân bằng âm dương của đông y. Hai biện pháp Đông – Tây y hỗ trợ, bổ sung cho nhau, cùng phát huy tác dụng. Cũng nhờ biện pháp này mà hạn chế được tối đa tình trạng tái phát và di căn khối u, cải thiện những triệu chứng lâm sàng, tăng tỷ lệ chữa khỏi lên đáng kể và đặc biệt là không làm tổn hại đến hệ thống miễn dịch. Rất nhiều ca điều trị thành công và người bệnh sau khi chữa trị khỏi đã có một cuộc sống bình thường, khỏe mạnh. Một ưu điểm khác là cách điều trị mới kết quả cao hơn song lại ít tốn kém hơn.

Biện pháp điều trị thâm nhập vết thương nhỏ và Đông tây y kết hợp đã đi khỏi lối điều trị truyền thống đã chứng minh sự tiến bộ vượt bậc trong điều trị ung thư. Không chỉ là một biện pháp mới tiên tiến hơn, mà còn có thể thấy được tính nhân bản cao, bởi nó nâng niu, bảo vệ chất lượng sống của người bệnh ở mức cao nhất sau khi khỏi bệnh trở về với đời thường. Đây cũng là một minh chứng cho thấy sự tiến bộ không ngừng của khoa học trong việc điều trị bệnh ung thư, với nỗ lực dần xóa bỏ nỗi lo lắng của người bệnh khi gặp phải căn bệnh.

BV Hiện Đại Quảng Châu: No 42, Lianquan Road, Tianhe district, Guangzhou, China (Website: http://www.asiancancer.com; E-mail: asiancancer@gmail.com )

Dao mổ laser có thể tiêu hủy các tế bào khối u

Một nhóm khoa hoc gia Hoa kỳ cho biết có thể nhắm đích vào các t ế bào riêng rẽ và ngay vào cả  các vi-rút nhờ  một tia laser femtosecond  và một kính hiễn vi rất đặc biệt. Máy có kích thước nhỏ và một khi hoàn chỉnh sẽ giúp thực hiện những giải phẫu cực kỳ  tinh vi  tới mức một  khối u. Hiện nay, máy mẫu có kích thước 10mmX15mmX40mm và có thể sử dụng như môt dao mổ (scalpel). Máy được nối qua  một sợi quang học vào một laser có khả năng phát ra những xung cực kỳ ngắn chỉ lâu chừng vài femtoseconde (1 femtoseconde là đơn vị đo thời gian bằng 1 phần 1 000 000 000 000 000 của một giậy). Với máy này nhóm nghiên cứu Adela Ben-Yakar ( Ban Kỹ nghệ Cơ khì, Đai học Texas, Austin) và nhóm Olav Solgaard (Đại học Stanford) đã có thể tiêu hủy một tế bào đặc biệt mà không đụng tới các tế bào lân cận.


Chùm tia laser đươc hướng dẩn chính xác bởi một gương nhỏ định hướng theo hai trục nhờ vào những hệ thống điên-cơ nhỏ.và đươc hội tụ bởi một thấu kính có chiết xuất thay đổi đươc. Vùng mà chùm tia laser chiếu vào nhỏ hơn kích thuớc một tế  bào vì vậy mới đảm bảo đươc độ chính xác lớn. Để quan sát vùng nói trên và kiểm soát kết quả, các nhà khoa học đã gắn vào trong hộp máy nhỏ này  một kính hiển vi đặc biệt goị là kính hiển vi hấp thu lưỡng photon. Nguyên tắc kính hiển vi này cũng giống như một kính hiển vi phát huỳnh quang trong đó một tia bức xạ tới làm cho  các chất đánh dấu đã có sẵn  trong mẫu vật phát ra ánh sáng.  Ở đây, tia  bức xạ là bức xạ của các xung cực ngắn phát ra bởi laser femtoseconde. Bức xạ này thuộc vùng hổng ngoại .Chùm tia bức xạ xuyên vào mô tới một độ sâu hơn một millimét và cho ta nhìn thẩy một vùng cưc nhỏ đường kính từ 36 tới 310 micron.

Các nhà khoa học đã thử nghiệm thành công máy này trên một nuôi cấy những tế bào khối u vú. Một khi một tế bào đã đươc chuẩn trục  thì năng lương đươc tập trung vào những “tia bắn giải phẫu” (ở mức 280 nanojoule). Vì các xung cực kỳ ngắn nên nhiệt phóng thích không kịp truyển ra xung quanh vùng làm bia nhắm bắn. Hình dưới đây cho thấy rõ tế bào “bia” đã bị hủy diệt và các tế bào xung quanh vẫn nguyên vẹn

          
 Nhóm nghiên cứu Adela Ben-Yakar có kế hoạch thu nhỏ hệ thống hơn nữa cho tới khi để vừa vào trong một hộp mà bế dài nhất chỉ bằng 15 millimét. Tới lúc này máy có thể gắn vào thiết bị nội soi (endoscope) để luồn vào trong ổ bụng bệnh nhân để quan sát, lấy mẫu sinh học  hoặc giải phẫu. (phép soi ổ bụng- laparoscopie)

Tưởng cũng nên biết là trong vòng vài năm nay,  ngành phẫu thuật vi thể (microsurgery) phát triển rất mạnh  Khả năng tiêu tụ đươc vào một vùng kích thước nhỏ giúp các nhà khoa học tác động lên nhựng kết cấu tế bào và cả nhựng kết cấu nhỏ hơn tế bào ngay cả những vi-rút nữa..

Phát minh mới có thể đẩy các tế bào ung thư…vào chỗ  tự huỷ diệt

Một nhóm nghiên cứu tại Pháp vừa tạo ra những phân tử có thể “đánh lừa” các tề bào ung thư có tính đề kháng với xạ và hoá trị liệu làm cho chúng đi đến “tự sát”. Đây là một thành quả nghiên cứu đem lại  nhiều hứa hẹn cho việc trị liệu ung thư.

Như ta đã biết xạ trị liệu và hoá trị liệu nhắm gây những tổn thương cho các tế bào khối u để tiêu diệt chúng. Một trong những tổn thương bất lợi nhất cho các tế bào này là vật liệu di truyền của chúng bị “bể vỡ” Khi có quá nhiều chỗ bị “bể vỡ” - gây ra bởi chiếu xạ chẳng hạn - các tế bào ung thư có thể tự hủy diệt. Nhưng nhiều khi các tổn thương  này  không đủ nhiều để triệt bỏ một số tế bào khối u có khả năng nhận ra các “bể vỡ” và tự huy động việc sửa chữa. Các tế bào này đã trở thành đề kháng đối với trị liệu, làm các bác sĩ cũng đành bó tay.

Nhóm nghiên cứu của bác sĩ Marie Dutreix thuộc Viện Curie (Paris) đã thành công trong việc sản xuất ra những phân tử  có thể “đánh lừa” các tế bào ung thư làm chúng “tưởng lầm” là đã bị tổn thương nhiều. Bác sĩ Marie Dutreix cho biết  “Các phân tử này được gọi là Dbait (mồi nhử) là những đoạn ngắn DNA bắt chước các  bể vỡ của hai nhánh của chuỗi xoắn kép DNA của các tề  bào ung thư. Chính vì thế mà chức năng tự sửa chữa của các tế bào này mới bị mắc lừa”. Trong khi đó thì các tổn thương thật sự gây ra bởi chiếu xạ lại  không bị “phát hiện”  vì  hệ thống tự sửa chữa của các tế bào ung thư đang bị “rối loạn” Kết quả là các tế bào ung thư sẽ bị “tràn ngập” và chỉ có con đường duy nhất là  tự hủy diệt.

Bác sĩ Marie Dutreix cho biết là các phân tử Dbait đã được thử nghiệm thành công trên chuột, và kết quả nghiên cứu sẽ đươc đăng trên tạp chí Americam Clinical Cancer Research. Trong vùng khối u thì đã có từ 75 tới 100% tế bào ung thư bị tiêu diệt nhờ sự kết hợp “chiếu xạ-Dbait”,  trong khi đó với phép xạ trị liệu không thôi thì chỉ có từ 30 đên 50% mà thôi. Hơn nữa, các phân tử  Dbait không có gây đôc hại cho các mô lành mạnh ở xung quan vùng khối u.

Vần để còn lại bây giờ là tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên con người, dự trù sẽ bắt đẩu vào cuối n ăm 2010 tại bốn Trung tâm Ung thư ở Paris. Các nghiên cứu sẽ chú trọng vào ung thư hắc sắc tố trên da và u nguyên bào xốp não, tức là  hai loại ung thư đươc biết là có tính để kháng với các phép trị liệu hiện nay. Các nhà nghiên cứu dự tính sẽ chích các phân tử Bbait cho bệnh nhân vài giờ trước khi chiếu xạ  Các nhà nghiên cứu cũng hi vọng  rẳng với việc sử dụng các phân tử Bdait thì liều lượng chiếu xạ sẽ giảm bớt vì  hiện nay các liểu lượng này nhiều khi lên tới mức giới hạn an toàn đối với các mô lành mạnh ở xung quanh khối u. Mặt khác các nhà nghiên cứu cũng đang tìm cách nới rộng việc sử dụng các phân tử Dbait kềt hợp với hóa trị liệu.


Các tiến bộ trong việc trị liệu bệnh ung thư

Ung thư vẫn còn là kẻ thù đáng sợ của chúng ta, nhưng chỉ trong vài năm gần đây các nhà khoa học đã hiểu biết cặn kẻ về kẻ thù này và sử dụng điều hiểu biết ấy để khống chế các tế bào gây chết người này và do đó cứu sống đươc nhiều mạng người và cải thiện được tỉ  số lành bệnh của cả ngàn bệnh nhân. Khoa học ngày càng hiểu rõ  về cấu trúc di truyển của con người và đã giúp các nhà khoa học nhận diện ra nhiều gien có liên hệ tới những căn bệnh ung thư khác nhau

           Ngày nay kỹ thuật trị bệnh “ trúng - trật “đã nhường chỗ cho những thuốc đã được chuẩn đích cẩn thận để tấn công thẳng vào các gien nhằm phá vỡ các cơ chế sinh tồn và tăng trưởng bất thường của chúng. Chúng ta hãy lấy thuốc Avastin làm thí dụ, Thuốc này ngăn chặn sự tăng truởng của các mạch máu cung cấp  chất bổ dưỡng cần thiết cho các tế bào  ung thư. , Thuốc này đã đươc dùng trong nhiều năm để làm chậm  sự phát triển của bệnh ung thư kết tràng và phổi . Bắt đẩu từ tháng hai năm nay (2008) thuốc đã đươc phép sử dụng để trị liệu ung thư vú di căn Theo các bác sĩ đây mới chỉ là bước đẩu khai thác tiềm năng của thuốc Avastin..Thuốc chỉ có mỗi trở ngại quan trọng là  rất mắc , có thể tốn tới $92.000 một năm.

Bác sĩ Gabriel N. Hortobágyl , giám đốc Chương trình Nghiên cứu Đa ngành về Ung thư vú tại Trung tâm Ung thư Anderson (Houston) cho biết “Trong 50 năm qua các bác sĩ chuyên về ung thư đã thử tới cả trăm ngàn hợp chất lên các tế bào ung thư  để xem chúng có thể làm chậm sự tăng trưởng hay tiêu diệt các tế bào này không.Nhưng kết quả là chẳng có hợp chất nào hiệu nghiệm cả”  Ông nói tiếp “Nhưng bây giờ chúng ta đã phát hiện đươc các gien ung thư, biết vì sao chúng trở thành bất thường và từ đó tìm kiếm những cách chuyên biệt để cắt đứt các qui trình ấy. Đây quả là một cuộc cách mạng. Thay vì trước đây chỉ bào chế đươc 50 loại thuốc trong 50 năm thì từ bây giờ mỗi năm chúng ta có thể sản xuất  từ 10 tới 20 loại thuốc khác nhau”. Theo kết quả thăm dò công bố vào tháng ba vừa qua (2008) thì từ một phần tư tới phân nửa tất cả các phép trị liệu mới đều đang chuyển sang giai đoạn thử nghiệm lâm sàng chót và đều chứng tỏ là có hiệu nghiệm. Và  các nhà  nghiên cứu thuộc Đại học South Florida cho biết  “với thời gian mô hình thành  công này ngày càng vững chắc.

Cùng một lúc, các phép trị liệu cũ đã đươc cải biến  hầu như thay đồi hẳn. Hiện nay phép xạ trị liệu sử dụng kỹ thuật mới gọi là “Star Trek technology” theo đó ung thư đươc nhắm đích hểt sức chính xác để tránh không làm tổn thương tới các mô lành mạnh và để giảm bớt các tác dụng phụ.. Bác sĩ John Mendelsohn chủ tịch Hội Y sĩ Anderson nói “Tiến bộ này có thể đo đươc., Vào lúc tôi mới  ra đời chỉ có khoảng môt phẩn ba những người bị ung thư sống thêm đươc năm năm hay hơn, nhưng bây giờ con số đã lên tới hai phần ba”. Hội Ung thư Hoa kỳ cho biết gần 1.5 triệu người Mỹ sẽ đươc chẩn đoán có bệnh ung thư vào năm 2008, mà phần lớn là ung thư phồi, vú, kết tràng hay tiền liệt tuyến. Vì tuổi tác là yếu tố rủi ro chính nên 77 phần trăm các trường hợp ung thư xẩy ra cho những người tuổi 55 hay hơn.

Ung thư phổi

Các nhà nghiên cứu cho biết đã nhận diện ra những bất thường di truyển làm tăng lên từ 21 tới 81 phần trăm rủi ro bị ung thư phổi đối với những người nghiện hút hoặc trước có hút thuốc. Hút thuốc chịu trách nhiệm tới từ 85 đến 90 phần trăm các trường hợp ung thư phổi, nhưng chỉ có khoảng 15 phầm trăm những người nghiên thuốc hoặc trước có hút thuốc là mắc bệnh ung thư mà thôi. Phát hiện về các mối liên hệ di truyền là một bước tiến  to lớn và có thể giúp các nhà nghiên cứu nhận diện ra những ai có rủi ro cao bị “ung thư phổi loại tế bào không nhỏ” tức là loại ung thư phổi thông thường nhất. Việc nhận diện ra những người này là then chốt vì thông thường bệnh nhân không có triệu chứng gì  cho tới khi ung thư đã  nặng và khó chữa.

Một tiến bộ khác về phép trị liệu: đó là phép xạ trị liệu hướng dẫn bằng ảnh chụp (image-guided radiation therapy).. Bác sĩ Kenneth Rosenzweig chuyên ngành ung thư tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloab-Kettering nói “Tôi nghĩ là hẩu hết mọi người tại Hoa kỳ đếu có thể tới một trung tâm có phương tiện trị liệu như vậy trong vòng một tiếng đồng hồ”. Hệ thống chụp hình cung cấp những ảnh chụp rõ ràng hơn, chính xác hơn , để giúp các bác sĩ nhắm bắn khối u chính xác hơn. Việc nhắm bắn chính xác này  giúp cắt giàm được số lẩn chiếu xạ ung thư phổi mới chớm phát từ 30 tới 40 lẩn trong hai tháng xuống còn 3 hay 4 lần một tuần.

Đối với những người bị ung thư nặng nhưng chỉ hạn chế ở phổi thì tỉ lệ sống sót đã tăng từ số không lên 35 phần trăm nhờ vào phép hoá trị liệu kết hợp với xạ trị liệu hoặc vào giải phẫu.

Ung thư vú

Tổng công có ít nhất bốn phân loại ung thư vú chính và các nhà nghiên cứu đã tìm ra những phép trị liệu  cho từng phân loại một với kết quả rất khả quan. Theo báo

cáo của Bệnh viện Massachusetts General Hospital và Đai hoc Vermont thì phép trị liệu mới chống sự tái phát của ung thư vú kích đông bởi estrogen (một loại ung thư thông thường nhất của phụ nữ mãn kinh) đã đem lại kết quả tốt đẹp. Theo phép trị liệu này thì các phụ nữ sau khi đã uống đủ năm năm tamoxifen có thể tự bảo vệ bằng cách uống đều một loại thuốc ức chế aromatase. Các phụ nữ lớn tuổi cũng có thể dung nạp dễ dàng các thuốc AI như những người trẻ tuổi.

Một phát triển gây ấn tượng khác là hai thứ thuốc mới  nhắm vào một loại ung thư vú “HER-2 positive” có sức tấn công rất mạnh. Vào năm 2006  FDA chỉ chấp thuận cho dùng thuốc  Herceptin để trị ung thư vú này ở thời kỳ chót, nhưng nay đã nới rộng cho phép sử dụng vào thời kỳ bệnh mới phát. Nhờ vậy phân nửa các phụ nữ có rủi ro cao sẽ khỏi sợ bệnh tái phát.

Năm nay, một thuốc mới khác gọi là  Tykerk đã đươc chấp thuân cho sử dụng cho các phụ nữ  bị ung thư vú HER-2 positive ở thời kỳ nặng mà  thuốc Herceptin không có hiệu lực. Nhờ vậy nhiều phụ nữ đã đươc cứu sống hoặc nếu bị nặng quá thì cũng sống  thêm đươc một thời gian.

Ung thư kết tràng

Trong 50 năm qua chỉ có môt loại thuốc duy nhất trị bệnh này, nhưng hiện nay đã có 5 loại khác nhau.. Trong năm loại này thì ba là tác nhân hoá học và hai dùng cho phép trị liệu chuẩn đích.

Trong hoá tri liệu (chemotherapy) thuờng ra tác nhân hoá học đươc chích vào mach máu hay bắp thịt (IV /IM). Tác nhân hoá học này sẽ theo máu chạy tới khắp nơi trong cơ thể vỉ vậy hoá trị liệu đươc gọi la toàn thân

Trong trị liệu chuẩn đích (targeted therapy) các thuốc sử dụng “tinh khôn” hơn vì biết nhắm đích các tế bào ung thư cần phải tấn công, Vì có ảnh hưởng trực tiếp lên các tế bào ung thư trong tiến trỉnh sinh hóa nên trị liệu chuẩn đích có thể chặt đứt khà năng phân tách hay tăng trưởng của các tế bào hay ngăn chặn khối u tự tạo nguồn cung ứng máu.

Trong hai thuốc dùng cho phép trị liệu chuẩn đích thì một là  Avastin có công dụng “bỏ đói” các tế bào ung thư còn thuốc thứ hai là Erbitux/Vectibix thì ức chế một protein trên bề mặt các tế bào ung thư. Folfox là một cốc-tay gồm nhiểu tác nhân hoá hoc mới  đã thay đổi chất lượng tri liệu ung thư kết tràng  phát triển và đã cải thiện tỉ lệ sống sót  và giảm nguy cơ bệnh tái pháp đối với các  bệnh nhân  mà ung thư kết tràng đã lan sang các hạch bạch huyết. Với các phép tri liệu mới này,  các bệnh nhân có ung thư kết tràng ở thời kỳ cuối có thể sống thêm được hai năm so với sáu hay chín tháng trước đó.

Tuy nhiên các chất ức chế protein (protein inhibitor) có độc tính và rất mắc ($15,000 một tháng) mà lại không có hiêu quả đối với 45 phần trăm bệnh nhân dùng thuốc này. Tuy nhiên bác sĩ Axel Grothey tại Mayo Clinic (Rochester Minn.) hi vọng là từ đây tới cuối năm sẽ có một trắc nghiệm giúp sàng lọc các bệnh nhân để loai các người không  hưởng đươc lợi ich của thuốc để tránh tác dụng phu và tốn kém

Ung thư tiền liệt tuyến

Một thuốc mới Provenge đang đươc FDA duyệt xét  là một vac-xin  kích thích hệ miễn dich của chính cơ thể để chống lại ung thư. Theo giáo sư Philip Kantoff  tai Đai học Harvard thì nếu đúng như vậy  thì đây quả là một thay đổi lớn lao vì liệu pháp miễn  dịch nói chung chưa có thành công vói bất cứ ung thư nào.

Trong khi các bệnh nhân lớn tuổi mắc những bệnh ung thư khác  không đươc điểu trị đúng tiêu chuẩn  thì  các người già với bệnh ung thư tiền liệt tuyến khu trú lại đươc trị liệu quá mức cẩn thiết.  Theo giáo sư Theodore DeWeise tại Đại hoc John Hopkins thì giới bác sĩ đểu đồng ý là ung thư tiền liệt tuyến thuộc loại nhẹ –đăc biệt là đối với những đàn ông nào có bệnh khác nữa-- chỉ nên đươc “theo dõi sát sự tiến triễn “  tức là làm sinh thiết mỗi năm , đo mức PSA trong máu và không trị liêu gì hết nếu các thử nghiêm chưa có dấu hiệu nguy hiểm

Mỡ trong cơ thể có liên quan tới sáu loại ung thư

Báo cáo mới đây của viện American Institute for Cancer Research và Tổ chức World Cancer Research Fund cho biết là mỡ dư thừa trong người tăng rủi ro mắc phải sáu loại bênh ung thư và đưa ra 10 khuyến cáo phòng ngừa trong đó có  việc giới hạn  tiêu thụ thịt đỏ và rượu, tránh ăn các loại thịt biến chế và quan trọng nhất là làm tiêu hao số cân năng dư thừa

Ông W. Philip T. James, chủ tịch Lưc lượng International Obesity Task Force và là một trong 21 thành viên của ủy ban soạn thảo báo cáo nói “Các khuyên cáo phản ảnh những gì khoa hoc cho chúng ta biết hiện nay tức là ngay cả một lương nhỏ mỡ dư thừa, đặc biệt ở vùng thắt lưng,cũng gia tăng rủi ro”  Báo cáo khuyên mọi người nên “giữ cho cơ thể  ở mức cân nặng  bình thường” theo tiêu chuẩn do Tổchức Y-tế Quốc tế đã ấn định và tránh đừng để lên cân và vòng đo thắt lưng tăng ở tuổi trưởng thành.

Mỡ dư thừa, đặc biệt ở vùng bụng, ảnh hưởng lên mức hormone  và các yếu tố tăng trưởng mà cả hai điều này đều có liên quan đến sự phát triển của các tế bào ung thư. Ngoài ra bệnh mập phì, với đặc thù là “trạng thái viên mạn tình ở cấp thấp” của cơ thể  cũng có thể  làm phát sinh ung thư.

Trong báo cáo cách đây một thập niên, hai nhóm nghiên cứu nóitrên đã chỉ nêu lên  sựliên hệ  giữa dư thừa sức cân nặng và ung thư nội mạc tử cung. Báo cáo năm nay dựa vào kết quả tham khảo suốt trong thời gian 5 năm hơn 7,000 nghiên cứu trên khắp thế giới và đã đưa ra những bằng chứng hiển nhiên là mỡ dư thừa có liên quan đến các ung-thư  thực quản, kết tràng và trực tràng, màng trong tử cung và thận, cũng như ung thư vú của phụ nữ sau  thời kỳ mãn kinh.  Theo ông James phát kiến này hết sức quan trọng và “vì lẽ ấy chúng tôi đã đặt trọng tâm vào sức cân nặng của cơ  thể trong các khuyến cáo đầu tiên của chúng tôi“

Hai khuyến cáo tập trung vào việc kiềm chế sức cân nặng gồm có vận đông thân thể tối thiểu 30 phút mổi ngày và ăn uống vừa phải, tránh hoàn toàn các thức ăn nhanh, nuớc ngot,  các thức ăn biến chế chứa ít chất sợi mà lại nhiều đường hay mỡ. Kèm theo các khuyến cáo này có bảy “tuy-dô” để làm sao giữ cho khoẻ mạnh. Một trong những tuy-dô này là ăn nhiều trái cây và rau vì theo báo cáo “ những người ăn theo thực chế gồm rau quả  ít có rủi ro bịbệnh, kể cả ung thư”.

Ngoài ra, cũng nên giới hạn  thịt đỏ tiêu thụ ở mức 18 ounce một tuần  và trừ những trường hơp rất hiếm hoi nên tránh ăn thịt biến chế-các sản phẩm hun  khói, ướp muối hay bảo quản bẳng hoá chất nhu dăm bông, mỡ chài hay hot dog. Một khi đã tiêu thụ đủ 18 ounce thịt đỏ rồi thì cứ 1,7 ounce ăn thêm mỗi ngày sẽ  tăng rủi ro bị ung thư lên 15%. Mổi 1,7 ounce thịt biến chế tiêu thụ mỗi ngày  tăng rủi ro bị ung thư lên 21%. Các thức  uống có rươu là một yếu tố gây ung thư miêng,  cuống họng,  thanh quản, thực quản, kết tràng và gan, do đó nên giới hạn đừng uống quá 2  ly mỗi ngày, đàn ông cũng như đàn bà.. Ông James nói “Chẳng cần biết đó là rượu vang, bia hay rượu mùi. Khi nói tới ung thư thì ngay cả một lượng nhỏ cũng tăng rủi ro”. Các khuyến cáo còn lại đề cập tới việc giới hạn sử dụng muối ăn  và dung  nạp đủ vitamin và khoáng chất cần thiết qua các thực phẩm bổ dưỡng thay vì qua các thuốc bổ sung

 
Bà Colleen Doyle, gìám đốc Dinh dưỡng và Vận đông thân thể của American Cancer Society kết luận “Sức cân nặng, thói quen ăn uống và vận động thân thể  có ảnh hưởng trực tiếp lên rủi ro bị ung thư. Điều  cần phải ghi nhớ là bản thân chúng ta có thể kiểm soát rủi ro phát triển bênh ung thư. Và thay đổi nếp sống  có thể giúp chúng ta làm đuợc điều ấy’

FDA chính thức phê chuẩn vắc-xin trị ung thư

Vắc-xin trị ung thư bằng cách dùng hệ miễn dịch của chính cơ thể người bệnh để chống lại bệnh đã được phê chuẩn bởi liên bang, mà có thể thay thế các phương pháp điều trị truyền thống như hóa trị.

Vắc-xin Provenge của tập đoàn Dendreon đã “huấn luyện” hệ miễn dịch để chiến đấu với khối u ác tính. Các bác sĩ đã cố gắng để phát triển liệu pháp này trong nhiều thập kỷ và Provenge là loại vắc-xin đầu tiên được FDA phê chuẩn. Nó được gọi là vắc-xin mặc dù nó điều trị bệnh hơn là ngăn ngừa. Các vắc-xin điều trị các loại ung thư khác bao gồm ung thư da hắc tố và u thần kinh phôi bào, đang tiếp tục được thử nghiệm. Việc điều trị ung thư thông thường hiện nay là cắt bỏ khối u, tấn công chúng bằng hóa trị hay xạ trị. Trong khi đó, Provenge giúp nâng cao hàng rào miễn dịch chống lại bệnh tật. Thử nghiệm cho thấy uống Provenge trong 4 tháng, cơ hội sống của nam giới mắc ung thư tuyến tiền liệt sẽ tăng lên.

Các bác sĩ sẽ nhặt ra các tế bào máu đặc biệt trong mỗi cơ thể bệnh nhân mà giúp hệ miễn dịch nhận ra ung thư như một sự đe dọa. Các tế bào này đã được trộn với 1 protein mà tìm thấy trong hầu hết các tế bào ung thư và một vật chất khác để thúc đẩy nâng cao sức chiến đấu của hệ miễn dịch. “Vắc-xin” được tạo ra này được đưa trở lại bệnh nhân với 3 lần truyền trong 2 tuần. Lúc đầu, Dendreon định sẽ thử nghiệm loại thuốc này ở khoảng 50 trung tâm y tế nhưng các nhà nghiên cứu cho biết chỉ có thể cung cấp vắc-xin cho vài bệnh nhân trong mỗi tháng. Những tác dụng phụ của Provenge là tương đối như ớn lạnh, mệt mỏi, sốt và đau đầu. So với các tác dụng phụ của hóa trị như rụng tóc, buồn nôn, bệnh thiếu máu và tiêu chảy là khá nhẹ nhàng.

Điều trị Ung thư bằng phương pháp thâm nhập huyết quản

Phương pháp thâm nhập huyết quản là một trong những phương pháp trị liệu ung thư tiên tiến nhất hiện nay, và đang được ngày càng nhiều quốc gia phát triển trên thế giới coi trọng. Phương pháp này làm thay đổi lộ trình dẫn thuốc truyền thống, tiêm thuốc trực tiếp vào khối u, nâng cao nồng độ thuốc lên nhiều lần làm tăng hiệu quả điều trị và giảm tác dụng phụ của trị liệu hóa chất.

Nguyên lý của trị liệu thâm nhập huyết quản

 


Khối u sinh ra trong cơ thể con người cũng có động mạch và tĩnh mạch, chúng tiếp nhận chất dĩnh dưỡng để tồn tại và di chuyển thông qua hệ thống tuần hoàn máu. Phương pháp trị liệu thâm nhập huyết quản được tiến hành thông qua một ống dẫn rất nhỏ, đưa từ  động mạch chủ dưới bẹn đi vào cơ thể, dưới định vị của hệ thống giám sát DSA, ống dẫn có thể được đưa bào các bộ phận của cơ thể, thông qua mà hình sẽ thấy vị trí khối u và di chuyển vào động mạch của khối u. Sau khi ống dẫn được đưa vào động mạch của khối u, các loại thuốc có thể thông qua ống dẫn này để truyền trực tiếp vào khối u hoặc khu vực cần trị liệu, các loại thuốc này bao gồm cả Đông y và Tây y. Nếu trong thuốc có hóa chất thì các hóa chất sẽ được đưa trực tiếp vào khối u, giết chết tế bào ung thư với nồng độ cao và đem lại hiệu quả rõ rệt, phương pháp này cũng được gọi là “phương pháp trị liệu hóa chất cục bộ”, phương pháp này có thể giảm thiểu tối đa tác dụng phụ gây hại cho cơ thể người bệnh.  

Ống dẫn khi đưa vào động mạch còn có thể dẫn chất làm tắc động mạch của khối u, khiến khối u mất đi nguồn cũng cấp dinh dưỡng và bị “bỏ đói”, phương pháp này được gọi là “trị liệu nút mạch”. Có thể làm nút mạch được hay không chủ yếu còn phụ thuộc vào điều kiện của các động mạch của khối u, cũng phụ thuộc vào trình độ thao tác và kinh nghiệm của bác sỹ.

Đặc điểm của trị liệu thâm nhập huyết quản

Phương pháp truyền thông là truyền thuốc qua tĩnh mạch, thuốc  được đưa đến toàn cơ thể, nồng độ của thuốc tác động đến khối u cũng phải điều chỉnh để không tác động quá mức đến các cơ quan lành lặn khác của cơ thể, vì vậy việc điều trị kết quả vẫn còn hạn chế và tác dụng phụ lại tương đối lớn. Thực hiện trị liệu qua thâm nhập huyết quản, thuốc  được trực tiếp vào khu vực có khối u thông qua động mạch chủ, nồng độ thuốc có thể cao gấp nhiều lần so với thông thường, tác dụng tiêu diệt khối u cao. Tuy nhiên lại không gây ảnh hưởng nhiều đến các tổ chức lành lặn khác, do đó có thể nâng cao hiệu quả điều trị mà giảm tối đa tác dụng phụ cho toàn cơ thể. Trị  liệu thâm nhập huyết quản có thể truyền thuốc làm tắc động mạch “bỏ đói” tế bào ung thư, đây là phương thức đặc biệt nhất của trị liệu thâm nhập huyết quản, nó góp phần không nhỏ trong trị liệu ung thư.
Những ca bệnh như thế nào thích hợp sử  dụng phương pháp thâm nhập huyết quản?

Phương pháp thâm nhập huyết quản có hai tác dụng chủ  yếu, một là đưa hóa chất nồng độ cao tiêm trực tiếp vào khối u “đầu độc” tế bào ung thư, hai là làm tắc động mạch chủ của khối u “bỏ đói” tế bào ung thư. Do đó những phương pháp cần thiết phải tiêm thuốc trực tiếp vào khối u đều có thể sử dụng phương pháp này. Trong quá trình trị liệu thâm nhập huyết quản cũng có thể lưu lại hình ảnh huyết quả, xác nhận điều kiện huyết quản của khối u, nếu điều kiện cho phép thì có thể làm nút mạch.

Có  thể trị liệu thâm nhập mấy lần? Bao nhiêu lâu có thể làm một lần?

Nếu sử  dụng phương pháp thâm nhập chủ yếu để tiêm thuốc với nồng độ cao vào khối u, thì việc này phụ thuộc vào thuốc được tiêm vào là thuốc gì, nếu có bao gồm hóa chất thì số lần có thể sử dụng thâm nhập của hóa chất là giống nhau, theo tiêu chuẩn Quốc tế, có thể làm từ 4 ~ 6 lần, mỗi lần cách nhau 3 ~ 4 tuần. Nút mạch có thể làm mấy lần lại phụ thuộc vào tình trạng nút mạch của lần trước, nếu làm một lần chưa đủ thì có thể phài làm thêm, thông thường phương pháp này được tiến hành chung với tiêm thuốc thâm nhập. Mỗi một ca bệnh lại sử dụng thuốc khác nhau, khoảng cách và số lần sử dụng phương pháp thâm nhập huyết quản cũng khác nhau, xin hãy làm theo hướng dẫn của bác sỹ.

Phương pháp trị liệu thâm nhập huyết quản có tác dụng phụ như thế nào?


Thâm nhập huyết quản là một kỹ thuật trị liệu phạm vi nhỏ, thuờng thì không cần phẫu thuật, chỉ  gây tê cục bộ. Phương pháp này gây tổn hại  đến cơ thể rất ít, nếu mục đích của việc tiêm thuốc vào khối u là để “đầu độc” tế bào ung thư thì tác dụng phụ sẽ phụ thuộc vào thuốc được tiêm, nếu thuốc có bao gồm hóa chất thì tác dụng phụ là do hóa chất gây nên, nhưng sẽ ít hơn rất nhiều so với các truyền hóa chất truyền thống. Nếu mục đích thâm nhập là để nút mạch “bỏ đói” khối u thì tác dụng phụ có thể gây sưng tấy cục bộ, sốt…Mỗi bệnh nhân, mỗi loại bệnh, mỗi vị trí khối u, sau khi nút mạch lại có những phản ứng khác nhau ở những cấp độ khác nhau.

Các vấn đề cần chú ý  trong quá trình thâm nhập huyết quản

Các  vấn đề liên quan đền bệnh nhân có thích hợp trị liệu thâm nhập huyết quản không, dùng thuốc gì, trị liệu bao nhiêu lần, thời gian trị liệu…đều do các chuyên gia quyết định sau khi hội chẩn. Trước khi điều trị cần kiểm tra sức khỏe (xét nghiệm máu…), phán đoán thể trạng bệnh nhanh có tiếp nhận được phương pháp này hay không. Bác sỹ giải thích bệnh tình cho người nhà bệnh nhân, nói rõ các vấn đề liên quan đến trị liệu thâm nhập, khi người nhà hiểu rõ và đồng tình thì mới ký vào văn bản xác nhận và  tiến hành trị liệu. Trước khi trị liệu 6 tiếng bệnh nhân tạm thời không ăn uống, các hộ lý y tá chuẩn bị những công việc cần thiết như làm sạch da đùi, có  lúc cần thiết phải thử độ mẫn cảm với thuốc. Khi tiến hành điều trị bệnh nhân nằm trên giường bệnh, gây tê cục bộ, bệnh nhân nghe được hướng dẫn của bác sỹ và cũng có thể trả lời bác sỹ. Sau khi điều trị, bệnh nhân trở về phòng phải nằm nghỉ ngơi khoảng 12 tiếng, đồng thời chịu sự  giám sát của các thiết bị tim mạch, huyết áp….đặc biệt là trong vòng 8 tiếng đầu sau khi phẫu thuật, bệnh nhân bắt buộc phải nằm trên giường tránh trường hợp vết thâm nhập kim từ bẹn bị chảy máu.

Căn cứ vào thể trạng khác nhau của bệnh nhân sẽ  dùng nhưng loại thuốc khác nhau, trong một thời gian ngắn sau khi điều trị có thể có những phản  ứng ở mức độ khác nhau, bác sỹ sử dụng thuốc có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm nồng độ của thuốc.

Điều trị ung thư bằng cách nhân bản tế bào miễn dịch

Các nhà khoa học Mỹ tuyên bố vừa điều trị thành công một ca ung thư da giai đoạn cuối bằng cách nhân bản tế bào miễn dịch của chính bệnh nhân trong phòng thí nghiệm, sau đó đưa ngược trở lại cơ thể. Trên Tạp chí Y học nước Anh mới, các nhà khoa học Mỹ cho biết, họ đã lấy ra khỏi cơ thể bệnh nhân những tế bào miễn dịch chống ung thư, tạo ra 5 tỷ bản sao của chúng, sau đó đưa trở lại cơ thể người bệnh. Sau khi điều trị hai năm, các khối u hắc tố vẫn không hề xuất hiện trở lại trên cơ thể người đàn ông 52 tuổi. Hệ thống miễn dịch của cơ thể đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư. Từ lâu các bác sĩ đã nghiên cứu để tìm những phương pháp kích hoạt phản ứng tiêu diệt khối u của hệ thống này. Trở lại trường hợp của nam bệnh nhân 52 tuổi nói trên, bệnh ung thư da ở ông đã di căn sang phổi và các hạch bạch huyết.


Các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson tại thành phố Seattle (Washington, Mỹ) tập trung nghiên cứu một dạng tế bào bạch cầu có tên gọi là CD4+ T. Loại tế bào này có đặc tính là chuyên tấn công một loại hóa chất có trên bề mặt của các tế bào hắc tố. Từ một mẫu tế bào bạch huyết của bệnh nhân trên, họ chọn lấy các tế bào CD4+ T, sau đó nhân bản chúng lên hàng tỷ lần trong phòng thí nghiệm và đưa trở lại cơ thể bệnh nhân để chúng tấn công các khối u. Trong hai tháng tiếp sau, các bản chụp x-quang cho thấy các khối u đã biến mất; sau hai năm thì bệnh nhân hoàn toàn khỏi bệnh. Đáng chú ý là các nhà khoa học nhận thấy, những tế bào nhân bản được đưa vào vẫn tồn tại trong cơ thể bệnh nhân nhiều tháng sau khi điều trị. Trong khi tuyên bố đây là lần đầu tiên phương pháp chữa ung thư này được thực hiện trên thế giới, các tác giả cũng chỉ ra rằng, công nghệ của họ chỉ có thể áp dụng được với các mẫu bệnh nhân có dạng hệ miễn dịch cũng như dạng khối u nhất định. Bên cạnh đó, phương pháp điều trị này cũng chỉ đáp ứng ở một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân ung thư da giai đoạn sau. Mặc dù công nghệ này quá phức tạp và khó có thể áp dụng cho tất cả mọi người, nhưng nguyên lý các tế bào miễn dịch có thể được nhân bản ngoài cơ thể, sau đó đưa trở lại để chữa bệnh đã có tác dụng to lớn cổ vũ các nhà khoa học trên toàn thế giới.

Hệ thống điều trị Nhiệt nội sinh – Liệu pháp xanh “đốt cháy khối u”

Hai dòng điện lưu tần suất khác nhau trực tiếp giao thoa trong cơ thể người sản sinh ra nhiễu từ trường, khiến nhiệt độ trong khối u gia tăng lên tới 42.5 ~ 43.50C và duy trì như vậ trong 40 phút. Sự thay đổi nhiệt độ này làm cản trở sự sinh trưởng và giết chết các tế bào Ung thư. Ngoài việc có thể trực tiếp gây hiệu ứng đến các tế bào Ung thư, liệu pháp này còn có thể nâng cao hiệu quả hóa xạ trị, nâng cao hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế khối u di căn.

Mạch máu trong khối u gấp khúc và phình to cản trở đến sự lưu thông máu, hệ thống cảm thụ của mạch máu chưa kiện toàn, kém mẫn cảm với nhiệt độ, khó tản nhiệt và nhiệt lượng dễ bị tập trung, nhiệt độ cao hơn các tổ chức thông thường khác 5~10 độ; các tế bào bình thường có thể chịu được nhiệt độ khoảng 42.5 ~43.5 độ C. Hệ thống điều tri nhiệt nội sinh tiêu diệt tế bào Ung thư bằng cách gia nhiệt nhưng lại không gây ảnh hưởng nên tế bào lành lặn, không có các phản ứng ức chế tủy hay rụng tóc.

Tại sao nhiệt độ cao lại có thể giết chết tế bào Ung thư?

1. Nhiệt độ cao khiến màng tế bào Ung thư bị phá hoại trước tiên, đồng thời cũng ức chế sự hợp thành của các AND, RNA và protein, khiến khối u bị ức chế tăng trưởng, dẫn đến hoại tử.

2. Nhiệt độ cao khiến cho các lysosome trong tế bào tăng hoạt tính, acid hydrolase phóng thích lượng lớn, khiến màng tế bào bị phân liệt, tràn tế bào chất, các tế bào ung thư sẽ bị hoại tử.

3. Nhiệt độ cao ức chế các tế bào ung thư trao đổi khi, dẫn đến gia tăng hiện tượng yếm khí glycolysis, tích lũy lactate, độ acid tăng cao cũng thúc đẩy Lysosome tăng hoạt tính, cuối cùng khiến tế bào bị hoại tử.

4. Nhiệt độ cao bảo vệ, kích hoạt và tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng tiêu diệt tế bào ung thư tự thân. Về điểm này, các phương pháp truyền thống như hóa xạ trị, thậm chí là phẫu thuật cũng không cách nào làm được.

Ưu điểm: Tác dụng phụ không rõ rệt, Hệ thống máy tính điều chỉnh chính xác nhiệt độ, Tia nhiệt trực tiếp trên bề mặt cơ thể và sâu bên trong khối u, Phối hợp với hóa xạ trị nâng cao hiệu quả điều trị.

Ứng dụng lâm sàng: các khối u bề mặt cơ thể, dịch lồng ngực, ổ bụng ác tính, khối u nằm ở vị trí sâu trong lồng ngực, ổ bụng, ung thư thực quản, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư gan, ung thư buồng trứng, ung thư tử cung...

Những bước đơn giản để ngừa ung thư

Được biết, theo thống kê có khoảng 7,6 triệu người chết vì ung thư mỗi năm và khoảng 12,7 triệu trường hợp mắc mới được chẩn đoán trên toàn thế giới. Trong đó, một phần ba số trường hợp ung thư có thể được chữa khỏi thông qua chẩn đoán - điều trị sớm và 30-40% có thể phòng ngừa được. Viện Nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ (AICR) vừa đưa ra những khuyến cáo đơn giản nhằm giúp chúng ta có thể phòng ngừa một số bệnh ung thư thường gặp:

-       Hạn chế những thực phẩm có chứa nhiều năng lượng, đặc biệt là những thực phẩm chứa nhiều đường, ít chất xơ, nhiều chất béo.

-       Tránh những thức uống có chứa nhiều đường.

-        Ăn nhiều loại rau, trái cây, ngũ cốc và đậu.

-       Hạn chế ăn các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt heo, thịt cừu và tránh các loại thịt chế biến sẵn.

-      Hạn chế tiêu thụ các loại thức ăn mặn và các loại thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều muối.

-      Giữ cho cơ thể được săn chắc nhưng không được thiếu dinh dưỡng.

-      Nên vận động cơ thể ít nhất 30 phút/ngày.

 
 

Vấn đề sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư

Ung thư là một loại bệnh ngày càng được nhiều người quan tâm vì tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng và tỷ lệ tử vong còn cao, người ta luôn tìm kiếm các phương pháp phát hiện chẩn đoán sớm để có thể chữa khỏi và đạt kết quả cao, muốn đạt mục đích đó cần phải phát hiện chẩn đoán sớm khi bệnh còn im lặng hoặc chỉ có những dấu hiệu đơn sơ. Không phải vô lý mà các nước có nền y học tiên tiến đều giáo dục cho nhân dân biết cảnh giác với các triệu chứng báo động ung thư, đó là:

Ung thư là một loại bệnh ngày càng được nhiều người quan tâm vì tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng và tỷ lệ tử vong còn cao, người ta luôn tìm kiếm các phương pháp phát hiện chẩn đoán sớm để có thể chữa khỏi và đạt kết quả cao, muốn đạt mục đích đó cần phải phát hiện chẩn đoán sớm khi bệnh còn im lặng hoặc chỉ có những dấu hiệu đơn sơ. Không phải vô lý mà các nước có nền y học tiên tiến đều giáo dục cho nhân dân biết cảnh giác với các triệu chứng báo động ung thư, đó là:

Đái ra máu, ho ra máu, ra máu âm đạo ngoài chu kỳ kinh, tiết dịch máu bất thường.
Một vết loét lâu khỏi.

 
Khàn tiếng kéo dài, ho dai dẳng.
Ăn không tiêu hoặc khó nuốt
Đi ngoài ra máu kéo dài.
Sờ thấy u cục hay đám cứng trong vú.
Sự thay đổi của nốt ruồi đen
            Khi thấy sự thay đổi trong người không rõ nguyên nhân, thay đổi đó kéo dài và nhiều khi không có đau đớn thì nên đi khám để phát hiện bệnh sớm. Đối với một số Ung thư hay gặp ở chị em như: Cổ tử cung, vú thì muốn giảm tỷ lệ mắc bệnh, chữa trị kịp thời đạt kết quả cao thì phải khám sức khỏe định kỳ 1-2 năm một lần.

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Cần khám và phát hiện phụ khoa như thế nào?

Tất cả các chị em đã có quan hệ tình dục nhất là ở lứa tuổi từ 35-50 cần phải được giáo dục và khuyến khích khám phụ khoa và làm xét nghiệm phiến đồ lấy dịch nhầy ở cổ tử cung và âm đạo ít nhất 2-3 năm 1 lần. Bệnh Ung thư cổ tử cung rất khó chữa khỏi nếu không được phát hiện sớm, và nếu được phát hiện sớm sẽ chữa khỏi 100%.

Xét nghiệm phiến đồ âm đạo là một xét nghiệm đơn giản giúp phát hiện sớm Ung thư, các tổn thương tiền Ung thư, lấy bỏ để không bao giờ trở thành Ung thư.

Tet PAP